Có những quyết định chỉ vài dòng, nhưng mở ra cả một dòng chảy lịch sử. Sắc lệnh số 58/KL ngày 3/5/1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh là dấu mốc như vậy.
Sắc lệnh quy định Nha Dân tộc thiểu số trực thuộc Bộ Nội vụ để: “Xem xét các vấn đề chính trị, hành chính liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số và thắt chặt tình thân thiện giữa các dân tộc trên đất Việt Nam”.
Nhiệm vụ chỉ gói trọn trong 34 chữ, nhưng hàm chứa tầm nhìn dài hạn: Lấy gắn kết làm nền tảng cho ổn định và phát triển.
Từ điểm khởi đầu đó, công tác dân tộc từng bước hình thành hệ thống chính sách đồng bộ. Từ Nha Dân tộc thiểu số đến Bộ Dân tộc và Tôn giáo, cơ quan công tác dân tộc không chỉ tham mưu, tổ chức thực thi chính sách mà còn là “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với đồng bào dân tộc thiểu số.
Trong tiến trình ấy, đại đoàn kết trở thành giá trị sống động trong từng chương trình, từng đổi thay ở những vùng khó khăn nhất. Đây cũng là sức mạnh nội sinh của các bước ngoặt lịch sử dân tộc, từ Cách mạng Tháng Tám 1945, Điện Biên Phủ đến đại thắng mùa Xuân 1975, và thời bình là động lực cho phát triển, giảm nghèo, ổn định và nâng cao vị thế quốc gia.
Chủ tịch Hồ Chí Minh tới dự và phát biểu tại cuộc mít tinh của nhân dân các dân tộc Tây Bắc tổ chức tại thị xã Sơn La chào mừng Người lên thăm Sơn La và dự Lễ kỷ niệm lần thứ 5 ngày chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954 - 7/5/1959). Ảnh: Tư liệu TTXVN/Báo ảnh Dân tộc và Miền núiThông điệp ấy tiếp tục được khẳng định. Ngày 19/4/2026, tại buổi gặp mặt các đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Một sắc lệnh cách đây 80 năm vì thế không chỉ là quyết định tổ chức, mà là điểm khởi đầu của cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm, lấy đoàn kết làm sức mạnh. Trên hành trình ấy, công tác dân tộc đã bền bỉ biến tư tưởng thành chính sách và đưa chính sách vào đời sống, gắn kết sự đồng lòng của toàn dân tộc.
Đại đoàn kết không dừng ở chủ trương mà trở thành sức mạnh hữu hình khi được hiện thực hóa qua con người, từ việc đào tạo và trao quyền cho đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số.
Xuyên suốt các giai đoạn phát triển, công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ cán bộ dân tộc luôn được quan tâm. Từ những lớp học ban đầu của trường cán bộ dân tộc mang tên Nùng Trí Cao đến hệ thống đào tạo bài bản, từ quy hoạch cán bộ đến chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài - một “hệ sinh thái” phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số từng bước được hình thành.
Tại thời điểm năm 2005, theo thống kê của Bộ Nội vụ, cả nước có 41.936 cán bộ, công chức, viên chức cấp cơ sở là người dân tộc thiểu số. Sau 20 năm, con số này đã tăng lên thành 250.819 người, theo Báo cáo số 3286/BC-BDTTG ngày 31/12/2025 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo.
Không chỉ ở cơ sở, đội ngũ cán bộ dân tộc ngày càng khẳng định vai trò trong các cơ quan quyền lực nhà nước, nhất là cơ quan lập pháp. Từ 37 đại biểu Quốc hội khóa I, đến khóa XVI đã có 76 đại biểu là người dân tộc thiểu số.
Với vai trò “nhạc trưởng” của cơ quan công tác dân tộc, từ lớp cán bộ đầu tiên năm 1946, qua 80 năm, hệ thống chính sách về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc không ngừng được hoàn thiện, từng bước được chuẩn hóa sang phát triển nguồn nhân lực chất lượng, gắn với phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, công tác đào tạo cán bộ dân tộc đòi hỏi phải có cách tiếp cận chủ động hơn. Tổng Bí thư - Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh, phát triển nguồn nhân lực và xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số là nhiệm vụ chiến lược, trong đó phải chủ động tạo nguồn từ sớm, từ xa.
Tại buổi gặp mặt học sinh, sinh viên, thanh niên dân tộc thiểu số xuất sắc, tiêu biểu năm 2025, ông đã giao các ban, bộ ngành liên quan xây dựng Đề án đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn cán bộ dân tộc từ học sinh, sinh viên xuất sắc; trước mắt nghiên cứu lựa chọn, cấp học bổng đào tạo ở nước ngoài cho một số cháu được tuyên dương.
Với đội ngũ cán bộ dân tộc không ngừng tăng cường, “đoàn tàu” chính sách dân tộc đã bền bỉ thực hiện hành trình củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Trên hành trình ấy, những người làm công tác dân tộc không chỉ kiến tạo mà còn bền bỉ “cõng” chính sách đến với đồng bào.
Đặc biệt, từ năm 1986 đến nay, thực hiện đường lối Đổi mới từ Đại hội VI của Đảng, cơ quan công tác dân tộc đã trực tiếp tham mưu, xây dựng và thực thi nhiều chính sách trọng điểm để phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Bước ngoặt quan trọng của công tác dân tộc trong thời kỳ Đổi mới được đánh dấu bằng Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 27/11/1989 của Bộ Chính trị về một số chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi, được cụ thể hóa tại Quyết định 72-HĐBT ngày 13/3/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ).
Trong Quyết định 72-HĐBT, Hội đồng Bộ trưởng yêu cầu điều chỉnh hợp lý quan hệ sản xuất và đổi mới quản lý để giải phóng sức sản xuất, phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế ở miền núi. Đây là bước ngoặt tạo nền tảng phát triển kinh tế hàng hóa ở vùng dân tộc, miền núi.
Chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa ở miền núi được “kích hoạt”, với vai trò của những “đầu tàu” trong đồng bào dân tộc thiểu số. Như ở Kỳ Sơn (Nghệ An), một xóm gồm 21 gia đình dân tộc Mông dưới sự dẫn dắt của ông Vừ Chông Pao (được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 2010) đã phát triển kinh tế vườn đồi. Tại thời điểm năm 1991 có gia đình một năm thu 2 triệu đồng từ bán rau quả và vật nuôi.
Từ những xóm nhỏ như Kỳ Sơn, “ngọn lửa” kinh tế hàng hóa được nhen lên ở miền núi. Cùng với hệ thống chính sách đầu tư, phát triển kinh tế-xã hội trên tất cả các lĩnh vực được triển khai hiệu quả, một làn sóng chuyển mình đã lan rộng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vùng, giảm nghèo nhanh và bền vững.
Giai đoạn 2021-2025 đánh dấu bước phát triển bứt phá của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhiều khu vực đạt mức tăng trưởng cao hơn mức bình quân cả nước: Tây Bắc trên 8%/năm, Tây Nguyên khoảng 7,5%/năm, Tây Nam Bộ trên 7%/năm.
Công tác giảm nghèo đạt kết quả nổi bật; đến cuối năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo người dân tộc thiểu số giảm còn 9,71%. Thu nhập bình quân đạt 43,4 triệu đồng/người/năm, tăng 3,1 lần so với năm 2020.
Từ những “đường ray” chính sách được đặt nền qua nhiều giai đoạn, công tác dân tộc bước vào nấc thang mới - nơi tư duy phát triển không còn dừng ở từng chương trình đơn lẻ, mà được thiết kế theo một tổng thể thống nhất, dài hạn và có tính tích hợp cao.
Đó là Đề án tổng thể và Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2030 (Quốc hội khóa XV phê duyệt tại Nghị quyết 88/2019/QH14 và Nghị quyết 120/2020/QH15), giai đoạn I (2021-2025) được triển khai theo Quyết định 1719/QĐ-TTg (Chương trình MTQG 1719).
Với 10 dự án, 14 tiểu dự án và 36 nội dung chính sách, Chương trình MTQG 1719 không chỉ để giải quyết những khó khăn trước mắt, mà hướng tới xử lý căn cơ những điểm nghẽn phát triển - từ hạ tầng, sinh kế, giáo dục, y tế đến nguồn nhân lực và chuyển đổi số. Đây không chỉ là sự thay đổi về quy mô, mà còn là bước chuyển về chất, từ hỗ trợ sang tạo lập điều kiện để đồng bào chủ động vươn lên.
Khi còn là Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc (giai đoạn 2016-2021), Phó Chủ tịch thường trực Quốc hội Đỗ Văn Chiến là “kiến trúc sư trưởng” của Đề án tổng thể. Theo ông, đây không chỉ là một chương trình mục tiêu quốc gia, mà cao hơn đó còn là sự quan tâm sâu sắc, cụ thể, đặc biệt của Đảng, Nhà nước, đối với đồng bào dân tộc và cả đồng bào dân tộc Kinh ở miền núi.
Chương trình MTQG 1719 là một “bước ngoặt thể chế” trong dòng chảy 80 năm “cõng” chính sách đến với đồng bào. Từ đây, phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi không còn là câu chuyện riêng lẻ của từng địa phương mà trở thành một cấu phần hữu cơ trong chiến lược phát triển bền vững của quốc gia.
Bộ Dân tộc và Tôn giáo được thành lập theo Nghị quyết số 176/2025/QH15 ngày 18/2/2025, trên cơ sở tổ chức lại Ủy ban Dân tộc và Ban Tôn giáo Chính phủ. Đây không chỉ là sắp xếp bộ máy, mà là bước chuyển trong tư duy quản lý, đặt công tác dân tộc, tôn giáo trong một chỉnh thể thống nhất, tương hỗ, cùng hướng tới củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Việc hai lĩnh vực dân tộc và tôn giáo “về chung một nhà” sẽ tăng cường hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả trong quá trình xây dựng, thực thi chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước; qua đó củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, để đất nước mạnh mẽ vươn mình.
Tại lễ công bố nghị quyết của Quốc hội ngày 1/3/2025, nguyên Thủ tướng Phạm Minh Chính đã nhấn mạnh, việc thành lập Bộ thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước, đồng thời mở ra không gian mới để các chính sách dân tộc và tôn giáo phát huy hiệu quả, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Sau một năm hoạt động, Bộ đã chuyển từ vai trò “thực thi” sang “kiến tạo” chính sách, chủ động tham mưu, hoàn thiện khung pháp lý cho giai đoạn mới. Năm 2025, Bộ hoàn thành 11 đề án, năm 2026 triển khai 16 đề án, trong đó dự án Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo (sửa đổi) đã được Quốc hội khóa XVI thông qua tại kỳ họp thứ nhất, ngày 23/4.
Những kết quả bước đầu đang đặt nền móng cho một nền quản trị hiện đại, minh bạch, hiệu quả trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Tiếp nối hành trình 80 năm, Bộ Dân tộc và Tôn giáo cùng các địa phương và đồng bào các dân tộc, tôn giáo đang hiện thực hóa các mục tiêu phát triển, củng cố khối đại đoàn kết và bồi đắp niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
Trên chặng đường 80 năm, công tác dân tộc đã đi từ vận động, tập hợp lực lượng trong kháng chiến đến xây dựng hệ thống chính sách trong hòa bình, và ngày nay là kiến tạo phát triển bền vững. Điểm xuyên suốt và cũng là giá trị cốt lõi của hành trình đó chính là xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc – nguồn sức mạnh nội sinh của đất nước.
Trong giai đoạn phát triển mới, cùng với công tác tôn giáo, công tác dân tộc tiếp tục giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Chính sách dân tộc, tôn giáo là một trụ cột trong chiến lược phát triển quốc gia, bảo đảm ổn định chính trị, củng cố niềm tin của nhân dân và phát huy sức mạnh tổng hợp của 54 dân tộc anh em và gần 28 triệu đồng bào các tôn giáo.
Tại Hội nghị sơ kết công tác quý I, triển khai nhiệm vụ quý II năm 2026 tổ chức chiều 22/4, Bí thư Đảng ủy - Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Đình Khang yêu cầu, các vụ, đơn vị phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quyết liệt các nhiệm vụ được giao. Đồng thời, tăng cường nắm chắc tình hình cơ sở, kịp thời tham mưu với Đảng, Quốc hội, Chính phủ giải quyết hiệu quả các vấn đề liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số và đồng bào tôn giáo, bảo đảm đúng chủ trương, chính sách và phù hợp thực tiễn.
Để hoàn thành các nhiệm vụ được giao, ông yêu cầu phải chuyển đổi tư duy, nâng cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện của cấp ủy. Phương thức triển khai nhiệm vụ phải thấm nhuần sâu sắc tư tưởng chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị để cụ thể hóa thành từng nhiệm vụ, từng phần việc rõ ràng.
Tiếp nối dòng chảy xuyên suốt 80 năm, yêu cầu đổi mới và hành động quyết liệt được đặt ra rõ ràng khi người đứng đầu ngành vừa được bổ nhiệm đã thể hiện tinh thần vào cuộc ngay từ đầu, siết chặt kỷ cương, thúc đẩy thực thi chính sách đến tận cơ sở, nhằm biến những định hướng lớn thành kết quả cụ thể, đo đếm được trong đời sống đồng bào.
80 năm - một chặng đường đủ dài để nhìn lại, tự hào và cũng để nhận diện rõ hơn những nhiệm vụ phía trước. Từ nền tảng đã được hun đúc qua lịch sử, công tác dân tộc, tôn giáo tiếp tục sứ mệnh cao cả: Gắn kết các dân tộc, các tôn giáo, đồng bào có đạo và không có đạo, phát huy mọi nguồn lực, cùng xây dựng một nước Việt Nam phát triển nhanh, bền vững và giàu bản sắc.
1946
Đặt nền móng thực hiện chính sách chăm lo toàn diện cho đồng bào dân tộc thiểu số: Nghị quyết Hội nghị cán bộ Trung ương, diễn ra từ ngày 3 đến ngày 6/4/1946 yêu cầu việc vận động dân tộc thiểu số trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc cần chú ý cải thiện cho quốc dân thiểu số bằng những cách như xóa thuế, tiếp tế muối, mở trường, mở bình dân học vụ và vận động vệ sinh ở các vùng quốc dân thiểu số.
Định hình hướng phát triển miền núi: Ban Bí thư ban hành Chỉ thị 128-CT/TW ngày 24/2/1959 về đẩy mạnh thi hành chủ trương tăng cường công tác vùng cao, nhiệm vụ chủ yếu là phát triển kinh tế, cải thiện đời sống vật chất, văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số, bảo đảm quyền bình đẳng dân tộc…
Bước ngoặt thời kỳ Đổi mới: Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 22-NQ/TW ngày 27/11/1989 về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi (được Hội đồng Bộ trưởng thể chế hóa tại Quyết định 72/HĐBT ngày 13/3/1990), lần đầu đưa phát triển miền núi vào chiến lược quốc gia, mở đường kinh tế hàng hóa.
“Cú hích” đầu tư quy mô lớn: Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định 135/1998/QĐ-TTg ngày 31/7/1998 phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn, miền núi và vùng sâu, vùng xa (Chương trình 135). Chương trình được triển khai qua 3 giai đoạn, kéo dài thực hiện đến năm 2020.
Xác lập chiến lược dài hạn: Tại Hội nghị lần thứ Trung ương 7 khóa IX, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết 24/NQ/TW ngày 12/3/2003. Đây là nghị quyết đặc biệt quan trọng đối với công tác dân tộc, đề ra những chủ trương chiến lược phát triển nhanh, bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Nghị quyết 24 được tiếp tục thực hiện tại Kết luận 65-KL/TW của Bộ Chính trị ngày 30/10/2019.
Chính sách an sinh trực tiếp: Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định 134/2004/QĐ-TTg ngày 20/7/2004 về chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn (tiếp tục thực hiện đến nay, theo các Quyết định: 1592, 755 và 1719).
Thiết kế tổng thể giai đoạn mới: Quốc hội khóa XV phê duyệt Đề án tổng thể và Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030 (tại Nghị quyết 88/2019/QH15 và Nghị quyết 120/2020/QH15). Lần đầu tiên có chương trình mục tiêu quốc gia riêng dành cho đồng bào dân tộc thiểu số, với thời gian thực hiện 10 năm.
Bước đột phá trong chính sách đầu tư, hỗ trợ: Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030, giai đoạn I: 2021-2025 tại Quyết định 1719/QĐ-TTg. Chương trình tích hợp 118 chính sách, được bố trí 137 nghìn tỷ đồng để giải quyết “5 nhất” ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Công tác đào tạo cán bộ dân tộc là một dự án quan trọng của Chương trình phát triển kinh tế-xã hội các xã đặc biệt khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa theo Quyết định 135/1998/QĐ-TTg ngày 31/7/1998 (Chương trình 135) triển khai 1.715 xã.
Chiến lược đào tạo cán bộ dân tộc là một nhiệm vụ quan trọng được đặt ra trong Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 về công tác dân tộc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX.
Đặt nền móng chuẩn hóa đội ngũ cơ sở từ Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn là người dân tộc thiểu số giai đoạn 2006 - 2010 tại Quyết định 31/2006/QĐ-TTg ngày 6/2/2006 và Đề án tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng và tạo nguồn đội ngũ cán bộ hệ thống chính trị cơ sở vùng Tây Bắc giai đoạn 2007-2010 tại Quyết định 106/2007/QĐ-TTg ngày 13/7/2007.
Hoàn thiện khung pháp lý về chính sách đào tạo cán bộ dân tộc với chính sách tổng thể theo Nghị định số 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc ngày 14/1/2011.
Đào tạo đội ngũ cán bộ dân tộc từ đáp ứng tiêu chuẩn sang phát triển nguồn lâu dài, có quy hoạch với các chính sách tại Quyết định số 402/QĐ-TTg về phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số trong thời kỳ mới ngày 14/3/2016.
Đào tạo cán bộ dân tộc gắn với phát triển vùng, chuyển đổi số, bền vững qua việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn I tại Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021.
Tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ dân tộc từ Đề án phát triển cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2035 tại Quyết định số 470/QĐ-TTg ngày 24/3/2026.