Phóng viên: Thưa Bộ trưởng, nhìn lại chặng đường 80 năm hình thành và phát triển, đâu là những dấu mốc quan trọng và thành tựu nổi bật nhất của ngành công tác dân tộc?
Bộ trưởng Nguyễn Đình Khang: Vấn đề dân tộc, công tác dân tộc và đại đoàn kết các dân tộc luôn được Đảng, Nhà nước xác định là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp cách mạng của đất nước.
Trong các giai đoạn lịch sử, công tác dân tộc luôn gắn chặt với nhiệm vụ trung tâm của đất nước. Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, trọng tâm là củng cố niềm tin, xây dựng chính quyền cách mạng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), tạo dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Sau năm 1954, hệ thống tổ chức được kiện toàn, từng bước nâng tầm, thể hiện rõ vị trí ngày càng quan trọng của công tác dân tộc trong quản lý nhà nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm và chụp ảnh lưu niệm với một gia đình người Dao ở tỉnh Tuyên Quang trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (ảnh trên); Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh lưu niệm với các anh hùng, chiến sĩ miền Nam. Ảnh: Tư liệu TTXVN/Báo ảnh Dân tộc và Miền núiTrong kháng chiến chống Mỹ, công tác dân tộc ở miền Bắc vừa tham mưu chính sách, chăm lo đời sống đồng bào, vừa huy động sức dân, góp phần xây dựng hậu phương vững chắc, tạo nên sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Công tác dân tộc ở miền Nam (1954 - 1975) tập trung xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tập hợp các dân tộc, tôn giáo và tầng lớp nhân dân. Trọng tâm là thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (1960), vận động đồng bào các DTTS Tây Nguyên và vùng căn cứ cách mạng tham gia kháng chiến, kết hợp đấu tranh chính trị và vũ trang.
Trong thời kỳ hòa bình, xây dựng và phát triển đất nước, đại đoàn kết các dân tộc tiếp tục là nền tảng của ổn định chính trị, là động lực quan trọng của phát triển và nâng cao vị thế quốc gia. Cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc không chỉ là cơ quan tham mưu chính sách, mà còn là cầu nối trực tiếp, mang tiếng nói, tâm tư, nguyện vọng của đồng bào đến với Đảng, Nhà nước; đồng thời tổ chức thực thi chính sách một cách hiệu quả trong thực tiễn.
Nhiều dấu mốc chính sách có ý nghĩa chiến lược đã định hình rõ hướng đi của công tác dân tộc. Nghị quyết 22-NQ/TW năm 1989 mở ra tư duy phát triển kinh tế hàng hóa vùng miền núi (được Hội đồng Bộ trưởng thể chế hóa tại Quyết định 72/HĐBT năm 1990); Chương trình 135 từ năm 1998 tạo “cú hích” đầu tư quy mô lớn; Nghị quyết 24-NQ/TW năm 2003 xác lập chiến lược dài hạn; Kết luận 65-KL/TW năm 2019 tiếp tục hoàn thiện nhận thức và định hướng về công tác dân tộc trong tình hình mới.
Đặc biệt, việc Quốc hội ban hành Nghị quyết 88 và Nghị quyết 120, cùng với việc triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021 - 2030 đã đánh dấu bước chuyển quan trọng, từ chính sách đơn lẻ sang cách tiếp cận tổng thể, tích hợp và dài hạn.
Giai đoạn 2021 - 2025 là giai đoạn có tính đột phá về đầu tư và tổ chức thực hiện. Các chính sách được triển khai đồng bộ đã góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, cải thiện rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào, đồng thời củng cố quốc phòng, an ninh và ổn định chính trị - xã hội.
Một dấu mốc đặc biệt quan trọng là việc thành lập Bộ Dân tộc và Tôn giáo năm 2025. Đây không chỉ là sự kiện tổ chức bộ máy, mà còn thể hiện bước phát triển mới trong tư duy quản lý nhà nước, đặt công tác dân tộc và tôn giáo trong một chỉnh thể thống nhất, gắn bó hữu cơ với mục tiêu củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Trong tháng 3/2026, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã tổng kết công tác dân tộc giai đoạn 2021 - 2025. Những kết quả đạt được trong 5 năm gần đây - từ tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo, phát triển hạ tầng đến giáo dục, y tế, văn hóa - không chỉ là thành tựu của một giai đoạn, mà là sự kết tinh của cả hành trình 80 năm kiên trì, nhất quán về đường lối và chính sách.
Kinh tế vùng đồng bào DTTS và miền núi duy trì tăng trưởng khá, nhiều khu vực đạt cao hơn mức bình quân cả nước như: vùng Tây Bắc trên 8%/năm, Tây Nguyên khoảng 7,5%/năm, Tây Nam Bộ trên 7%/năm (so với mức tăng GDP cả nước năm 2024 là 7,09%).
Giảm nghèo tiếp tục là một trong những thành tựu nổi bật. Nếu như năm 2020, tỷ lệ hộ nghèo DTTS chiếm 29% tổng số hộ DTTS thì đến cuối năm 2025 giảm còn 9,71%.
Thành tựu giảm nghèo là một trong những nền tảng để phát triển bền vững, là kết quả tích hợp từ các chương trình, chính sách đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước, nhất là Chương trình MTQG phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021 - 2025 (Chương trình MTQG 1719).
Trong đó, để đầu tư phát triển bền vững, vốn Chương trình MTQG 1719 đã đầu tư 6.018 công trình giao thông, 442 công trình điện, 1.787 nhà văn hóa, khu sinh hoạt cộng đồng, 986 công trình thủy lợi nhỏ, 281 chợ, đồng thời duy tu, bảo dưỡng 5.484 công trình hạ tầng.
Thực hiện Dự án 1 của Chương trình MTQG 1719, chúng ta đã hỗ trợ đất ở cho 10.549 hộ, đất sản xuất cho 13.387 hộ, chuyển đổi nghề cho 54.999 hộ. Đồng thời, hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 479.358 hộ và xây dựng 809 công trình nước sinh hoạt tập trung.
Một điểm nhấn trong năm 2025 và cả giai đoạn 2021 - 2025 là chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát trên cả nước vượt 230% kế hoạch, hoàn thành trước 5 năm 4 tháng so với mục tiêu.
Cùng với kinh tế, nguồn lực đầu tư từ các chương trình, dự án cũng tạo chuyển biến rõ nét trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế… ở trong vùng đồng bào DTTS. Điểm nổi bật là việc triển khai chính sách miễn, hỗ trợ học phí từ mầm non đến phổ thông từ năm học 2025 - 2026 và định hướng đầu tư 248 trường nội trú, bán trú liên cấp tại các xã biên giới. Tính riêng trong lĩnh vực văn hóa, từ vốn Chương trình MTQG 1719 đã đầu tư 3.220 nhà văn hóa - khu thể thao, 69 điểm đến du lịch truyền thống, bảo tồn 124 lễ hội truyền thống.
Những thành tựu trong lĩnh vực công tác dân tộc, từ nâng cao đời sống, phát triển hạ tầng đến giữ gìn văn hóa, đã củng cố vững chắc niềm tin của đồng bào DTTS vào Đảng và Nhà nước. Sự đồng thuận này góp phần giữ vững ổn định chính trị, an ninh trật tự, đặc biệt tại các địa bàn chiến lược, vùng biên giới.
Phóng viên: Theo Bộ trưởng, những bài học nào từ kết quả hoạt động 80 năm qua mà ngành công tác dân tộc cần tiếp tục gìn giữ, phát huy trong bối cảnh hiện nay?
Bộ trưởng Nguyễn Đình Khang: Qua 80 năm, công tác dân tộc đã đúc kết nhiều bài học có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Trước hết, đại đoàn kết các dân tộc là truyền thống ngàn đời, là vốn quý, nền tảng căn bản và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng Việt Nam. Đây không chỉ là mục tiêu mà còn là phương thức để huy động, phát huy cao nhất sức mạnh của toàn dân tộc trong mọi giai đoạn phát triển.
Thứ hai, phát triển vùng đồng bào DTTS và miền núi phải đặt trong tầm nhìn chiến lược dài hạn, trong đó người dân vừa là chủ thể, mục tiêu, trung tâm và vừa là động lực của quá trình phát triển.
Thứ ba, phải kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa. Thực tiễn cho thấy, sự bền vững của chính sách phụ thuộc rất lớn vào mức độ phù hợp với đặc trưng văn hóa, tín ngưỡng và phong tục của từng dân tộc.
Và bài học có tính bao trùm: Vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước và sự tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị, của toàn dân, toàn quân là nhân tố quyết định hiệu quả của công tác dân tộc.
Phóng viên: Thưa Bộ trưởng, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực có nhiều biến động, công tác dân tộc đang đối mặt với những khó khăn, thách thức gì?
Bộ trưởng Nguyễn Đình Khang: Hiện nay, cả nước có 14,7 triệu đồng bào DTTS, gần 28 triệu đồng bào có đạo trên cả nước. Sau sáp nhập hành chính, cả nước có 1.514 xã vùng đồng bào DTTS và miền núi, chiếm tỷ lệ 45% số xã phường; chưa kể 205 xã không thuộc vùng DTTS và miền núi nhưng có thôn thuộc vùng này. Trong số gần 34.000 thôn vùng DTTS và miền núi tại 32 tỉnh, thành phố, có tới hơn 13.000 thôn đặc biệt khó khăn. Quy mô, phạm vi và tính chất của công tác dân tộc ngày càng mở rộng và phức tạp.
Với hàng chục triệu đồng bào DTTS và đồng bào có đạo, phân bố trên địa bàn rộng lớn, nhiều khu vực đặc biệt khó khăn, thách thức không còn mang tính đơn lẻ mà mang tính cấu trúc, liên ngành và liên vùng.
Khoảng cách phát triển giữa vùng đồng bào DTTS và miền núi với mặt bằng chung của cả nước vẫn còn thấp hơn đáng kể, thể hiện ở thu nhập, chất lượng nguồn nhân lực, khả năng tiếp cận dịch vụ cơ bản và mức độ phát triển thị trường.
Bên cạnh đó, tính bền vững của sinh kế chưa cao; nguồn lực đầu tư còn phân tán; cơ chế phối hợp chưa thật sự đồng bộ. Việc tiếp cận các dịch vụ thiết yếu như nước sạch, dinh dưỡng, giáo dục chất lượng, dịch vụ số vẫn còn chênh lệch giữa các vùng, các nhóm dân tộc.
Tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai, sạt lở, dịch chuyển dân cư ngày càng rõ nét, làm gia tăng tính dễ tổn thương. Đồng thời, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng đa dạng, với nhiều vấn đề mới phát sinh, nhất là trên không gian mạng, đòi hỏi công tác quản lý phải kịp thời, linh hoạt và phù hợp với thực tiễn.
Những ngôi nhà tái định cư của đồng bào Đan Lai - Nghệ An (ảnh dưới); cuộc sống mới khởi sắc của đồng bào Tây Nguyên (ảnh trên)Phóng viên: Trong bối cảnh triển khai đồng thời các chương trình, chính sách lớn về các lĩnh vực và trọng tâm là Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi, chúng ta cần phải tập trung thực hiện đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu nào?
Bộ trưởng Nguyễn Đình Khang: Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Chính phủ lần thứ nhất đã xác lập định hướng phát triển mới đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và công tác tôn giáo, chuyển từ hỗ trợ đơn thuần sang phát triển bền vững dựa trên nâng cao năng lực nội sinh.
Tại buổi gặp gỡ các đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số ngày 20/4, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã yêu cầu công tác dân tộc phải đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước; tiếp tục đổi mới căn bản tư duy; trọng tâm không chỉ là hỗ trợ, mà phải chuyển mạnh sang tạo điều kiện để phát triển, trao cơ hội để người dân vươn lên, cải thiện đời sống một cách bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển và bảo đảm bình đẳng thực chất.
Tổng kết việc thực hiện chính sách dân tộc giai đoạn 2021 - 2025, chúng tôi nhận thấy chính sách chỉ phát huy hiệu quả bền vững khi được thiết kế theo hướng tích hợp, lấy người dân làm trung tâm, là mục tiêu và động lực của quá trình phát triển; lấy dữ liệu làm nền tảng quản trị và lấy kết quả cuối cùng về đời sống nhân dân làm thước đo.
Từ đó, chúng ta cần tập trung các nhóm giải pháp như sau:
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, chính sách và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Trong đó, trọng tâm là rà soát, hệ thống hóa và sửa đổi, bổ sung các chính sách theo hướng tinh gọn, tránh chồng chéo, xác định rõ một số kết quả đầu ra và kết quả cuối cùng có thể đo lường được, chuyển hướng xây dựng chính sách dân tộc từ “đa chương trình, đa mục tiêu” sang “ít đầu mối, rõ kết quả”; Thực hiện cơ chế quản lý theo hướng phân cấp, phân quyền rõ ràng, gắn với trách nhiệm giải trình và kiểm soát hiệu quả.
Thứ hai, phát triển kinh tế và sinh kế bền vững, tạo chuyển biến thực chất về thu nhập và đời sống của đồng bào. Như vậy, cần chuyển mạnh từ tư duy "hỗ trợ" sang "phát triển chủ thể", giảm tư duy hỗ trợ dàn trải, tăng đầu tư vào năng lực sản xuất, năng lực quản trị cộng đồng và khả năng tiếp cận thị trường; Tập trung khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng vùng, từng địa bàn; phát triển sinh kế bền vững theo lợi thế vùng…
Thứ ba, phát triển kết cấu hạ tầng thiết yếu và kết nối số, cải thiện điều kiện sống theo hướng đồng bộ, hiệu quả và bền vững. Tập trung giải quyết dứt điểm các nhu cầu thiết yếu của người dân sinh sống tại vùng đồng bào DTTS và miền núi, bảo đảm nguyên tắc không dàn trải…
Thứ tư, tập trung giải quyết dứt điểm các "điểm nghẽn" mang tính đặc thù của vùng đồng bào DTTS và miền núi như rà soát, sắp xếp quỹ đất, cho phép áp dụng cơ chế linh hoạt trong sử dụng đất phù hợp với điều kiện miền núi; đẩy mạnh giao đất, giao rừng gắn với sinh kế và hỗ trợ chuyển đổi sinh kế tại những nơi không còn quỹ đất; phát triển đồng bộ các giải pháp cấp nước sinh hoạt…
Trong khuôn khổ Lễ tuyên dương Học sinh, sinh viên, thanh niên dân tộc thiểu số xuất sắc, tiêu biểu năm 2025, Tổng Bí thư Tô Lâm (hiện nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước) chụp ảnh lưu niệm với đoàn học sinh, sinh viên, thanh niên dân tộc thiểu số xuất sắc, tiêu biểuThứ năm, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng dịch vụ xã hội cơ bản theo hướng bền vững, dài hạn. Có chính sách tăng cường chất lượng chăm sóc sức khỏe, giáo dục cho bà mẹ, trẻ em; hoàn thiện, nâng cấp cơ sở vật chất trường, lớp học trong hệ thống các trường dân tộc nội trú, bán trú…
Bên cạnh đó cần tập trung trung đầu tư, hỗ trợ các mô hình bảo tồn văn hoá gắn với phát triển, gắn di sản, nghề truyền thống, ngôn ngữ, tri thức bản địa với du lịch và sinh kế.
Phóng viên: Xin Bộ trưởng cho biết các nội dung trọng tâm mà Bộ Dân tộc và Tôn giáo sẽ tập trung triển khai trong thời gian tới?
Bộ trưởng Nguyễn Đình Khang: Bộ Dân tộc và Tôn giáo xác định, hoàn thiện thể chế là tiền đề khơi thông mọi nguồn lực cho vùng đồng bào DTTS và miền núi và các hoạt động tôn giáo, đồng thời đổi mới tư duy quản lý, chỉ đạo, điều hành; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương.
Trước hết là tổng kết, đánh giá kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW và Kết luận số 65-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác dân tộc trong tình hình mới; trên cơ sở đó đề xuất Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương ban hành một Nghị quyết mới đáp ứng yêu cầu của công tác dân tộc trong kỷ nguyên mới.
Một nhiệm vụ quan trọng là nhanh chóng triển khai Nghị quyết Đại hội 14 của Đảng về các nội dung liên quan đến công tác dân tộc; Tập trung hướng về cơ sở, giải quyết các vấn đề cơ bản, cấp bách mà thực tiễn tại cơ sở đang đặt ra, trong đó có công tác dân tộc, mà trọng tâm là rà soát, đánh giá, đề xuất cấp có thẩm quyền củng cố phát triển đội ngũ cán bộ cấp xã làm công tác dân tộc - tôn giáo tinh thông nghiệp vụ, tâm huyết, trách nhiệm, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới, góp phần nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả....
Bên cạnh đó, tiếp tục triển khai xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật phục vụ cho công tác quản lý như: Nghị định về công tác dân tộc (thay thế Nghị định số 05/2011/NĐ-CP); các nghị định hướng dẫn Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo (sửa đổi); Nghị định Quy định tiêu chí lựa chọn, công nhận người có uy tín, chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào DTTS và chính sách đối với một số tổ chức, cá nhân là người DTTS điển hình tiên tiến.
Bộ cũng khẩn trương phối hợp với các cơ quan liên quan hoàn thiện, trình hoặc ban hành các văn bản hướng dẫn, phân định rõ trách nhiệm, nâng cao hiệu quả triển khai Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2026 - 2030, phân cấp mạnh hơn cho các địa phương, đảm bảo nguồn vốn được sử dụng đúng mục đích, không để lãng phí, thất thoát nguồn lực.
Bộ cũng phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo tạo tập trung, hoàn thiện chính sách đối với học sinh, sinh viên, thanh niên DTTS; nghiên cứu xây dựng đề án tạo việc làm, phát triển dịch vụ, kết nối lao động bền vững trong vùng đồng bào DTTS giai đoạn 2026 - 2031.
Một số công việc trọng tâm khác tiếp tục đẩy mạnh như hoàn thành đưa vào vận hành cơ sở dữ liệu về dân tộc, cơ sở dữ liệu tôn giáo, kết nối với cơ sở dữ liệu dân cư; hoàn thành phương án đề xuất bảo đảm mục tiêu cấp Bộ chỉ thực hiện không quá 30% tổng số thủ tục hành chính.
Phóng viên: Nhân dịp Kỷ niệm 80 năm ngày truyền thống của cơ quan quản lý Nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc (3/5/1946 - 3/5/2026), Bộ trưởng có điều gì muốn chia sẻ?
Bộ trưởng Nguyễn Đình Khang: Tôi xin gửi tới đồng bào các DTTS, đồng bào các tôn giáo, cùng các chức sắc, chức việc trong cả nước lời thăm hỏi chân tình, sự trân trọng và những lời chúc tốt đẹp nhất.
Điều tôi muốn nhấn mạnh đó là: đoàn kết, tin tưởng và cùng phát triển.
Tôi mong đồng bào tiếp tục tin tưởng vào đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời chủ động, tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa, xây dựng đời sống “tốt đạo, đẹp đời”.
Nhà nước sẽ tiếp tục hoàn thiện chính sách, tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa để đồng bào phát huy nội lực. Tuy nhiên, sự phát triển bền vững chỉ có thể đạt được khi mỗi người dân, mỗi cộng đồng thực sự là chủ thể, chủ động vươn lên.
Tôi cũng mong các tổ chức tôn giáo tiếp tục phát huy vai trò tích cực trong xã hội, lan tỏa các giá trị nhân văn, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Tôi muốn chia sẻ lại những điều mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nói tại buổi tiếp các già làng, trưởng bản, nghệ nhân, Người có uy tín tiêu biểu toàn quốc nhân ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam. Đó là: Giữ cho bản làng bình yên cũng chính là góp phần giữ vững sự ổn định chung của đất nước; cùng nhau đổi mới nếp nghĩ, cách làm để phát triển bền vững quê hương, đất nước; tiếp tục vận động bà con phát huy tinh thần tự lực, chủ động vươn lên, phát triển kinh tế gia đình, xóa bỏ hủ tục, xây dựng đời sống văn minh.
Kỷ niệm 80 năm không chỉ là dịp nhìn lại, mà còn là điểm khởi đầu cho một chặng đường mới với quyết tâm cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn. Tôi tin tưởng rằng, với truyền thống đoàn kết và ý chí vươn lên, đồng bào các dân tộc và các tôn giáo sẽ tiếp tục đóng góp quan trọng vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Phóng viên: Xin cảm ơn Bộ trưởng!
Ảnh: Lê Anh Dũng, tư liệu báo VietNamNet, tư liệu TTXVN