Đội kỵ binh trong các triều đại phong kiến của nước ta trước đây. Vó ngựa Việt trong dòng chảy ngàn năm
Trong đời sống và văn hóa Việt Nam, ngựa đã hiện diện từ hàng ngàn năm trước. Không chỉ gắn bó mật thiết với sinh hoạt của 54 dân tộc anh em suốt chiều dài lịch sử, ngựa còn đi vào thơ ca, nhạc họa và nhiều loại hình nghệ thuật như điêu khắc, tạc tượng.
Từ buổi đầu dựng nước, ngựa đã gắn với đời sống cư dân Việt cổ qua truyền thuyết Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt đánh giặc Ân rồi bay về trời. Ngày nay, hình ảnh ấy vẫn được khắc họa sinh động qua pho tượng Thánh Gióng phi ngựa trên đỉnh núi Sóc Sơn, biểu trưng cho vẻ đẹp cao quý và hào hùng của con ngựa trong tâm thức người Việt.
Suốt hàng nghìn năm, những giai thoại về ngựa luôn mang dáng dấp sử thi. Tục truyền, khi vua Lý Thái Tổ xây thành Thăng Long gặp nhiều trắc trở, sau Lễ Cầu đảo tại đền Long Đỗ, một con ngựa trắng từ trong đền chạy ra để lại dấu chân. Vua cho xây thành theo dấu chân ngựa, công trình hoàn thành, Bạch Mã được phong làm Thành hoàng Thăng Long.
Đến thời Lê Lợi, trong lúc quân sĩ lâm vào cảnh thiếu lương thực, nhà vua đã cho giết cả voi và ngựa mình cưỡi để nuôi quân, làm tiền đề cho những chiến công lớn sau này. Hình ảnh chiến mã của Bình Định Vương Lê Lợi vì thế trở thành biểu tượng quen thuộc với người Việt.
Đoàn Cảnh sát cơ động kỵ binh tập luyện và diễu hành trong những sự kiện lớn của đất nước. Ảnh TLVới dân tộc Việt Nam, hình ảnh dũng tướng trên lưng ngựa xông pha trận mạc là biểu trưng của sức mạnh, tốc độ và lòng kiêu hãnh. Từ cổ chí kim, nhiều danh tướng luôn được tái hiện trong tư thế cưỡi ngựa, tiêu biểu như Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Trên chiến trường, ngựa được coi là chiến mã, bảo mã - gắn liền với sinh mệnh của võ tướng. Nhận thức rõ vai trò ấy, các triều đại phong kiến đã lập Viện Mã chính để chăm sóc, nuôi dưỡng và huấn luyện ngựa phục vụ quân đội.
Không chỉ gắn với chiến chinh, hình tượng ngựa còn xuất hiện đậm nét trong nghệ thuật tạo hình Việt Nam. Tượng ngựa sớm nhất được biết đến là tượng tròn ở chùa Phật Tích, tỉnh Bắc Giang, khoảng giữa thế kỷ XI, thể hiện ngựa nằm ngồi trên đài sen với đường nét hiện thực, trau chuốt.
Trong các lăng mộ vua Lê ở Lam Kinh hay lăng tẩm triều Nguyễn tại Huế, tượng ngựa đá xuất hiện phổ biến, thường được thể hiện thành cặp đứng chầu nghiêm trang trên linh đạo. Ở vùng Bắc Giang, Hà Nội cũng còn nhiều tượng ngựa mồ bằng đá xanh, đá ong hoặc đắp vữa, phản ánh trình độ điêu khắc và quan niệm tín ngưỡng của từng thời kỳ.
Đội hình kỵ binh chống bạo động của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn Kỵ binh Công an Nhân dân trong giờ huấn luyện. Trong tín ngưỡng dân gian, ngựa hiện diện tại các đền miếu, điện thờ, thậm chí ở gốc cây, hốc đá ven đường dưới dạng ngựa đá hoặc ngựa giấy - phương tiện di chuyển của các bậc thần linh. Nhiều làng nghề làm ngựa giấy đã tồn tại hàng trăm năm. Trên các đình, miếu miền Bắc và miền Trung, hình ảnh ngựa còn được chạm khắc trên diềm gỗ, phù điêu đá. Tại tháp Chàm Khương Mỹ, hình tượng người cưỡi ngựa cùng hai bánh xe được thể hiện khá hiện thực, cho thấy sự giao thoa văn hóa trong nghệ thuật tạo hình.
Trong văn học dân gian và bác học, ngựa xuất hiện dày đặc qua ca dao, tục ngữ như “mã đáo thành công”, “giữa đường ngã ngựa”, “Tái ông thất mã”… Trong đời sống thường nhật, chiếc xe đạp từng được ví là “con ngựa sắt”, còn “vành móng ngựa” gắn với hình ảnh chốn công đường.
Ngựa cũng hiện diện trong nhiều tác phẩm lớn như Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, thơ Nôm của Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, hay trong âm nhạc dân gian với làn điệu Lý ngựa ô.
Bước vào thời hiện đại, qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, những đoàn ngựa thồ lặng lẽ chở lương thực, vũ khí, làm nhiệm vụ liên lạc trên các chiến trường đã góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của dân tộc.
Cô gái Tày tham gia Lễ hội đua ngựa Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Ảnh TLVó ngựa thời gian
Ngựa phân bố rải rác khắp cả nước với nhiều giống địa phương như ngựa Bắc Hà, ngựa Phú Yên, ngựa Đà Lạt, ngựa cỏ miền Nam. Chủ yếu được dùng để thồ, kéo, những giống ngựa này phù hợp với địa hình hiểm trở, thích nghi khí hậu, chống chịu bệnh tật và chịu được gian khó. Dù không còn giữ vai trò phương tiện chủ đạo như trước, hình ảnh con ngựa vẫn in đậm trong đời sống người Việt.
Ở các bản làng miền núi, cao nguyên hay vùng gò đồi bán sơn địa, dễ bắt gặp những đôi bạn trẻ khoác áo thổ cẩm cưỡi ngựa vượt đèo, hay những chiếc xe thổ mộ ngựa kéo lọc cọc trên con đường rải đá quanh xóm làng, nhất là vào những phiên chợ vùng cao.
Ngày nay, ngựa Việt Nam tiếp tục được nuôi dưỡng và nhân giống phục vụ nhiều mục đích khác nhau: Y học, lao động, du lịch và quốc phòng. Trên đồng cỏ Bình Sơn, tỉnh Thái Nguyên, nhịp vó ngựa vang lên trong quá trình huấn luyện của lực lượng Cảnh sát cơ động kỵ binh - đơn vị đặc biệt của Bộ Công an. Lực lượng này hiện được sử dụng trong tuần tra biên giới, nghi thức quốc gia và các nhiệm vụ đặc thù.
Nghề nuôi ngựa vẫn còn tồn tại ở nhiều địa phương.
Ngựa trên đồng cỏ Đồng Lâm, tỉnh Lạng Sơn. Ảnh TLỞ thảo nguyên Khau Sao, tỉnh Lạng Sơn, hơn 1.700 con ngựa được chăn thả, trong đó có trên 700 con ngựa bạch thuần chủng. Tại Gò Thì Thùng, tỉnh Đắk Lắk và cao nguyên Langbiang, tỉnh Lâm Đồng, nhiều hộ dân nuôi ngựa phục vụ lao động, lễ hội và du lịch, gắn bó mật thiết với sinh kế người dân.
Trong đời sống văn hóa Việt Nam, con ngựa là hình tượng đẹp và giàu ý nghĩa. Ngựa không chỉ góp phần dựng nước, giữ nước, mà còn là công cụ lao động tạo ra của cải. Đặc biệt, ngựa giữ vai trò quan trọng trong các lễ hội truyền thống, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.
Mỗi độ Xuân về, trên các cao nguyên Bắc Hà, Langbiang hay Gò Thì Thùng, vó ngựa lại làm sống dậy không gian văn hóa ngàn đời. Những nhịp vó ngựa gõ vào đất trời, hòa cùng tiếng trống hội và hò reo mùa lễ hội, như nhắc nhớ hành trình bền bỉ của dân tộc, mạnh mẽ tiến bước vào kỷ nguyên mới.