Chiến sĩ tình báo huyền thoại Đại tá Tư Cang. Ảnh: NVCCTiếng Bác Hồ hiệu triệu non sông
Trò chuyện cùng phóng viên, Đại tá Tư Cang hướng mắt ra xa, nhớ lại những ngày hào hùng của mùa Thu 80 năm trước. Tiếng Bác Hồ và giai điệu Quốc ca như lời hiệu triệu non sông, lý tưởng của những thanh niên như ông ngày đó là con đường cách mạng giải phóng dân tộc. Dù chết, có chăng chỉ thoáng qua tâm trí một cách nhẹ nhàng.
Theo lời kể của Đại tá Tư Cang, năm 1945, ông mới 17 tuổi. Sài Gòn khi đó xuất hiện lực lượng thanh niên tiền phong , trí thức yêu nước, có tinh thần dân tộc chống lại sự cai trị của người Pháp. Sau một thời gian thành lập, lực lượng này nhanh chóng lớn mạnh, thu hút 1,2 triệu thanh niên khắp Sài Gòn, Long An, Tây Ninh, Đồng Nai…
Với những thành tích xuất sắc trọng sự nghiệp kháng chiến chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc, năm 2005, Đại tá Tư Cang đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân.
Trong số các sinh viên, trí thức tham gia lực lượng có những sinh viên rất nổi tiếng và có các trí thức lớn như: bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Trịnh Đình Thảo, nhà văn Thiếu Sơn... Đây là những nhân vật có sự ảnh hưởng, khiến ông Tư Cang tự nguyện tham gia lực lượng, bắt đầu hành trình dấn thân vì độc lập dân tộc.
Ở tuổi 97, ông không thể quên được những khẩu hiệu như “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa muôn năm”, “Độc lập hay là chết”… giăng đầy các con đường lớn.
Tại Sài Gòn trong ngày 2/9/1945, lễ đài độc lập được đặt trên đường Norodom, nay là đường Lê Duẩn, sau Nhà thờ Đức Bà, do Xứ ủy, Ủy ban Hành chánh lâm thời Nam Bộ tổ chức nhằm biểu dương lực lượng và tinh thần yêu nước, quyết tâm ủng hộ Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Hầu hết người dân Sài Gòn các nơi đổ về từ sớm, tạo thành một biển người đông chưa từng thấy. Cờ đỏ sao vàng rợp trời.
Giữa biển người ở Sài Gòn, mọi người xúc động chờ nghe tiếng Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập qua hệ thống loa phát thanh. “Lúc đó là một tinh thần phấn khởi, vì trước giờ đâu có tên Việt Nam trên bản đồ thế giới. “Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập…” Cùng với bài Quốc ca làm cho thanh niên tụi tôi sôi nổi. Lần đầu tiên nghe hát Quốc ca là chỉ muốn cầm vũ khí ra sa trường”, Đại tá Tư Cang chia sẻ trong sự xúc động.
Phóng viên được gặp gỡ, trò chuyện với Đại tá Tư Cang trong một dịp đặc biệtTừ thời khắc lịch sử đến những “vai diễn” để bảo vệ ánh sáng cách mạng
Niềm vui độc lập chưa kịp trọn vẹn, Nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định đã phải đối mặt với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai.
Đại tá Tư Cang khoác áo lính lên đường chiến đấu. Từ năm 1947 đến năm 1954, trong vai trò chiến sĩ quân báo của Việt Minh tại Bà Rịa - Vũng Tàu (nay đã sáp nhập với TP. Hồ Chí Minh), ông khai thác nhiều thông tin tình báo, góp phần không nhỏ vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, làm Trung Đội trưởng trinh sát, kiêm Chính trị viên Đại đội Đặc công thuộc Sư đoàn 338, tham gia kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Năm 1961, ông trở lại chiến trường miền Nam. Tháng 5/1962, ông trở thành chỉ huy cụm tình báo H.63.
Với vai trò chỉ huy, ông đã điều hành và phối hợp với những điệp viên huyền thoại như Phạm Xuân Ẩn, Tám Thảo, thực hiện những nhiệm vụ thu thập thông tin quan trọng từ lòng địch. Những tài liệu tối mật được chuyển về từ Cụm H.63 đã đóng góp trực tiếp vào các quyết sách chiến lược của Bộ Chính trị, làm thay đổi cục diện chiến trường.
Đại tá Tư Cang chia sẻ, thời kỳ hoạt động trong nội đô Sài Gòn là giai đoạn đầy hiểm nguy khi phải hóa thân vào nhiều vai diễn khác nhau để tạo vỏ bọc. Từ gia sư đến kế toán, mỗi “vai diễn” đều đòi hỏi sự nhanh nhạy, mưu trí và khả năng ứng biến linh hoạt.
“Vào thành mà không có công việc cụ thể thì rất dễ bị lộ,” ông nói, ánh mắt rực sáng như tái hiện lại những ngày tháng căng thẳng mà ông và đồng đội đã trải qua.
Trong suốt những năm kháng chiến, với triết lý sống “coi như đã chết”, Đại tá Tư Cang và đồng đội đã giữ vững tinh thần thép, bất chấp mọi nguy hiểm để hoàn thành nhiệm vụ. Nhờ vậy, đường dây thông tin của cụm tình báo H.63 chưa từng bị đứt đoạn. Những chiến công của cụm đã trở thành niềm tự hào của toàn lực lượng tình báo B2, góp phần to lớn vào thắng lợi của dân tộc.
Ngày đó, lý lịch Đại tá Tư Cang trong hồ sơ mật của địch chỉ vỏn vẹn vài dòng: “Phó Chính ủy tình báo Miền, người trắng, cao, bắn súng hai tay, thích văn nghệ. Quê quán: Chưa xác định. Gia đình: Chưa xác định”.
Sau ngày đất nước thống nhất, Đại tá Tư Cang tiếp tục cống hiến trong giai đoạn bảo vệ biên giới phía Bắc và thực hiện nghĩa vụ quốc tế tại Campuchia.
Chiến tranh kết thúc, ông trở về vui vầy bên gia đình, bà con chòm xóm, hòa mình cùng thiên nhiên. Và dịp kỷ niệm ngày lễ trọng đại của dân tộc, tâm trí của ông lại trào dâng bao xúc cảm khi hồi tưởng về những năm tháng anh dũng chiến đấu, cùng nỗi nhớ những đồng đội đã hy sinh…“Thật tình mà nói, không có những đồng đội trung kiên, tôi đã chết không biết bao lần rồi”, Đại tá Tư Cang kể với giọng chậm rãi, như thể từng lời được đào lên từ ký ức chôn sâu.